Nghị định 110/2009/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2009
CHÍNH PHỦ
---------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------------
Số: 110/2009/NĐ-CP
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2009

NGHỊ ĐỊNH
QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ngày 21 tháng 11 năm 2007;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,

Nghị định 55/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2009

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2009
CHÍNH PHỦ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------
Số: 55/2009/NĐ-CP
Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2009

NGHỊ ĐỊNH
QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bình đẳng giới ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
NGHỊ ĐỊNH:
1. Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới.
2. Vi phạm hành chính về bình đẳng giới quy định tại Chương II của Nghị định này là hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về bình đẳng giới mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
3. Các hành vi vi phạm hành chính khác về bình đẳng giới không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan.

Nghị định 48/2009/NĐ-CP về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2009

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2009
CHÍNH PHỦ
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------
Số: 48/2009/NĐ-CP
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2009

NGHỊ ĐỊNH
QUY ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bình đẳng giới ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
NGHỊ ĐỊNH:
Chương 1.
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định chi tiết thi hành khoản 5 Điều 11, khoản 2 Điều 12, khoản 3 Điều 13, khoản 4 và khoản 5 Điều 14, khoản 3 Điều 17, Điều 19, Điều 21, Điều 23, Điều 24, điểm e và điểm g khoản 2 Điều 32 Luật Bình đẳng giới về:
1. Thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới.
2. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
3. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; chính sách hỗ trợ nữ cán bộ, công chức, viên chức; hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
4. Nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình và công dân Việt Nam; cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức, cá nhân).

Nghị định 08/2009/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Phòng, chống bạo lực gia đình có hiệu lực thi hành kể từ ngày 21/03/2009

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2009
CHÍNH PHỦ
------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------
Số: 08/2009/NĐ-CP  
Hà Nội, ngày 04 tháng 02 năm 2009

CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ngày 21 tháng 11 năm 2007;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,
NGHỊ ĐỊNH
1. Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình về: chính sách của Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực gia đình; biện pháp cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã); cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình.
2. Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức, cá nhân).

Công văn 95/VPCP-KGVX ngày 06/01/2009 của văn phòng chính phủ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Thứ Ba, 6 tháng 1, 2009
CÔNG VĂN
SỐ 95/VPCP-KGVX NGÀY 06/01/2009 CỦA VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ 
VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Kính gửi:

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (báo cáo số 87/BC-UBND ngày 11 tháng 8 năm 2008 ) và ý kiến của Bộ Công an (công văn số 1947/BCA-A11 ngày 05 tháng 9 năm 2008 ), Bộ Ngoại giao (công văn số 1026/BNG-LS-m ngày 05 tháng 9 năm 2008 ) và Bộ Tư pháp (công văn số 3195/BTC-HCTP ngày 07 tháng 10 năm 2008 ) về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm có ý kiến như sau:
1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, tăng cường thực hiện quản lý nhà nước về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, tiếp tục thực hiện Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (Nghị định 68 ) và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68 (Nghị định 69).
2. Bộ Tư pháp:
a. Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các cơ quan khác liên quan khẩn trương nghiên cứu, xây dựng: dự thảo văn bản về một số biện pháp tăng cường quản lý việc trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài, trình Thủ tướng Chính phủ chậm nhất trong quí I năm 2009; dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Nghị định 68 và Nghị định 69, trình Chính phủ chậm nhất trong quí II năm 2009;
b. Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan khác liên quan tiếp tục đàm phán, ký kết hiệp định tương trợ tư pháp hoặc thỏa thuận với các nước hữu quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam đang sinh sống tại các nước nói trên trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân các nước này về quốc tịch, cư trú, hôn nhân và gia đình, tài sản và một số nội dung khác liên quan, phù hợp với pháp luật của Việt Nam, pháp luật của nước sở tại và tập quán quốc tế;
c. Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và các cơ quan khác liên quan khẩn trương xây dựng đề án thí điểm thành lập một công ty tư vấn hôn nhân quốc tế của Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, trình Thủ tướng Chính phủ chậm nhất trong quý II năm 2009.
3. Bộ Ngoại giao chỉ đạo các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt ở những khu vực có nhiều phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật nước sở tại và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thông qua Bộ Ngoại giao, chủ động nắm tình hình cộng đồng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hiện đang cư trú ở nước ngoài, để tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân địa phương, góp phần lành mạnh hóa các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
5. Đề nghị Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nghiên cứu mở rộng mối quan hệ hợp tác với các tổ chức tư vấn hôn nhân quốc tế hợp pháp của các nước ASEAN và các nước khác.
Văn phòng Chính phủ thông báo để các cơ quan biết, thực hiện.
 

Lịch sử