Nghị định 158/2005/NĐ-CP về việc đăng ký và quản lý hộ tịch

Thứ Ba, 27 tháng 12, 2005
CHÍNH PHỦ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 158/2005/NĐ-CP
Hà Nội, ngày 27 tháng 12 năm 2005 

CHÍNH PHỦ
 Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
 Căn cứ Bộ luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
 Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình ngày 09 tháng 6 năm 2000; 
 Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
NGHỊ ĐỊNH:
 1. Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết.
 2. Đăng ký hộ tịch theo quy định của Nghị định này là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
 a) Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc;
 b) Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi.
 3. Việc đăng ký kết hôn; nhận cha, mẹ, con; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Công văn 218/2005/KHXX về việc giám đốc các quyết định giải quyết việc dân sự

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2005
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
 

Số: 218/2005/KHXX
V/v Giám đốc các quyết định giải
 quyết việc dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 

                  Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2005

                   Kính gửi: Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

          Sau khi nghiên cứu Công văn số 1620/GĐKT-DS ngày 13/6/2005 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
          Theo quy định tại Điều 316 của Bộ luật tố tụng dân sự thì nói chung các quyết định giải quyết việc dân sự đều có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, trừ các quyết định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hai trường hợp này là Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn hoặc công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con.
          Theo quy định tại Điều 311 của Bộ luật tố tụng dân sự thì “Toà án áp dụng những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này để giải quyết những việc dân sự quy định tại các khoản 1,2,3,4 và 6 Điều 26, các khoản 1,2,3,4,5 và 7 Điều 28, khoản 1 và khoản 4 Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Bộ luật này”; do đó, khi phát hiện quyết định gải quyết việc dân sự không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có hành vi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật (Điều 283 của Bộ luật tố tụng dân sự) hoặc khi phát hiện sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội (khoản 2 Điều 188 của Bộ luật tố tụng dân sự) thì căn cứ vào các quy định tương ứng của Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 311, Điều 285, Điều 283 hoặc Điều 188) người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm có thể kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm. Thủ tục giám đốc thẩm được thực hiện theo quy định tại Chương XVIII của Bộ luật tố tụng dân sự.
          Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để Quý Toà tham khảo trong khi giải quyết các việc dân sự cụ thể ở địa phương.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Toà DS, Toà KT, Toà LĐ (TANDTC);
- VKSNDTC (để phối hợp);
-Đ/c Chánh án TANDTC (để báo cáo);
- Các Đ/c Phó Chánh án TANDTC (để biết);
- Lưu VP, Viện KHXX (TANDTC)

KT. CHÁNH ÁN
PHÓ CHÁNH ÁN THƯỜNG TRỰC

(đã ký)

                 Đặng Quang Phương

Chỉ thị 03/2005/CT-TTg về tăng cường quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2005
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Số: 03/2005/CT-TTg
Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 2005

CHỈ THỊ
VỀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Ngày 10 tháng 7 năm 2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nưước ngoài. Qua hơn hai năm triển khai thực hiện Nghị định, việc xác lập quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nưước ngoài đã có nhiều chuyển biến tích cực so với trước đây, phù hợp với bối cảnh mở rộng quan hệ giữa nước ta với nước ngoài.
Tuy nhiên, việc kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với ngưười nước ngoài vẫn còn một số tồn tại sau đây:
Ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nhiều trưường hợp kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài, đặc biệt với người Đài Loan, đã được tiến hành một cách vội vã, không bảo đảm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; hoặc, phụ nữ Việt Nam vượt biên trái phép sang chung sống như vợ chồng với công dân nước láng giềng mà không đăng ký kết hôn.
Hoạt động kinh doanh môi giới kết hôn nhằm mục đích trục lợi của một số tổ chức, cá nhân diễn ra dưới nhiều hình thức trá hình, tinh vi, gây mất trật tự xã hội. Nhiều trưường hợp môi giới kết hôn đã làm hạ thấp danh dự, nhân phẩm của phụ nữ Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng thuần phong, mỹ tục của dân tộc, làm ảnh hưởng đến uy tín quốc gia.
Phần lớn phụ nữ Việt Nam trưước khi ra nước ngoài sinh sống cùng chồng chưa được tư vấn đầy đủ để có những hiểu biết cần thiết về pháp luật, ngôn ngữ, phong tục, tập quán của nước sở tại; do đó, đã gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng và ổn định cuộc sống ở nước ngoài. Một số phụ nữ Việt Nam sau khi ra nước ngoài bị rơi vào hoàn cảnh bất hạnh nhưng chưưa được pháp luật nước sở tại bảo vệ kịp thời.
Thực trạng nêu trên xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do công tác quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài chưa được thực hiện tốt, việc xử lý những vi phạm, tiêu cực trong lĩnh vực này chưa nghiêm, chưa kịp thời.
 

Lịch sử