Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực thi hành kể từ 03/01/1987 đến 31/12/2000

Thứ Hai, 29 tháng 12, 1986
QUỐC HỘI
********
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Số: 21-LCT/HĐNN7
Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 1986


LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH (1986)


Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.
Trong gia đình xã hội chủ nghĩa, vợ chống bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau tiến bộ, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội.
Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, để tiếp tục xây dựng và củng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phòng kiến, chống ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản ;
Căn cứ vào Điều 64 và Điều 65 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ;
Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình.


Chương 1:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG


Điều 1
Nhà nước bảo đảm thực sự chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc, bền vững.
Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc các tôn giáo khác nhau, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo được tôn trọng và bảo vệ.

Điều 2
Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.
Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội.
Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Điều 3
Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.

Điều 4
Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi ; cấm cưỡng ép ly hôn.
Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.
Cấm ngược đãi, hành hạ cha, mẹ, vợ, chồng, con cái.

Công văn 951-NCPL về việc xin hủy bỏ việc nuôi con nuôi

Thứ Tư, 30 tháng 7, 1986
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Số: 951-NCPL
Hà Nội, ngày 30 tháng 7 năm 1986

CÔNG VĂN
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 951/NCPL NGÀY 30 THÁNG 7 NĂM 1986 VỀ VIỆC XIN HUỶ BỎ VIỆC NUÔI CON NUÔI

Hiện nay, ở một số nơi, Toà án nhân dân có nhận được đơn của cha mẹ nuôi xin huỷ bỏ việc nuôi con nuôi vì con nuôi đã trưởng thành nhưng không chịu lao động, trộm cắp nhiều lần, cha mẹ nuôi không giáo dục được hoặc con nuôi đã đánh chửi cha mẹ nuôi.
Pháp luật nước ta chưa quy định đầy đủ về việc huỷ bỏ việc nuôi con nuôi. Tuy nhiên, căn cứ vào yêu cầu giải quyết vấn đề này trong thực tế và kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn các Toà án nhân dân địa phương về vấn đề này như sau:
1. Việc nhận người khác làm con nuôi chỉ có ý nghĩa khi giữa cha mẹ nuôi với người con nuôi có quan hệ tình cảm gắn bó với nhau, cha mẹ nuôi phải thực hiện đúng đắn nghĩa vụ của mình với con nuôi và con nuôi phải kính trọng, yêu mến cha mẹ. Vì vậy, nếu tình cảm hai bên không còn nữa, cha mẹ nuôi đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ với con nuôi hoặc con nuôi đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ với cha mẹ nuôi thì Toà án có thể huỷ bỏ việc nuôi con nuôi.
 

Lịch sử